Mô hình tôm rừng đang mang lại lợi ích to lớn

10 tháng trước

1. Tại sao cần thực hiện mô hình tôm - rừng?

Ở Việt Nam, tôm bắt đầu được nuôi vào những năm 70 và ngày càng phổ biến với người nông dân. Đến năm 2017, tôm chiếm 46% tổng sản lượng mặt hàng hải sản xuất khẩu và trở thành mặt hàng xuất khẩu giá trị nhất của Việt Nam. Ban đầu, tôm được nuôi dưới hình thức quảng canh, hình thức này đòi hỏi cần một vùng đất có diện tích rộng lớn nhưng ít tốn công chăm sóc lại có giá trị cao. Những năm gần đây, hình thức nuôi quảng canh tôm sú đã dần chuyển sang nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng. Nuôi thâm canh là hình thức nuôi trên một diện tích nhỏ với mật độ cao hơn, do đó sản lượng sẽ tăng lên trên cùng một đơn vị diện tích.

Cả hai hình thức trên đều xuất hiện sau những cuộc tàn phá rừng ngập mặn trên diện rộng. Giữa năm 1976 và 1992, nghề nuôi tôm đã chứng kiến một sự phát triển bùng nổ lớn nhưng không bền vững. Điều này dẫn đến sự giảm sút diện tích rừng ngập mặn. Do tác động phát quang của chất độc da cam cùng sự mở rộng của ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, diện tích rừng ngập mặn chỉ còn một phần nhỏ, điều này thể hiện rõ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các ao tôm thường sẽ thoái hóa sau một thời gian sử dụng, buộc nông dân phải chặt hạ vùng rừng ngập mặn khác để canh tác. Mặc dù nhà nước đã cố gắng cải thiện tình trạng trên, nhưng đây vẫn là vấn đề cần được quan tâm hơn.

Một trong những điều cần quan tâm chính của việc nuôi tôm là kế sinh nhai. Thu nhập từ việc nuôi tôm đặc biệt là nuôi thâm canh thường có đặc điểm là chu kì bùng nổ và phá sản. Khi mọi thứ theo như kế hoạch nuôi thì đây là một nghề sinh lời cao. Tuy nhiên, các loại bệnh dịch như hội chứng tôm chết sớm, bệnh đốm trắng vẫn là những bệnh vô cùng đáng sợ đối với nông dân, có thể quét sạch hết vụ nuôi chỉ trong nháy mắt. Nuôi mật độ cao, quản lí chất thải không hiệu quả và lạm dụng kháng sinh do sự mở rộng của ngành nuôi tôm chỉ làm cho các loại dịch bệnh trở nên phổ biến hơn. Mọi thứ còn tệ hơn khi những năm qua, có vài lô hàng tôm của Việt Nam bị từ chối bởi FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) tại Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu vì bị nhiễm kháng sinh.

Rõ ràng, sự bền vững về môi trường và xã hội là một vấn đề cần được đề cập khi nói đến ngành tôm ở Việt Nam. Gần đây, mô hình nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn xuất hiện có ý nghĩa giải quyết hai vấn đề trên. Mô hình này là hình thức nuôi tôm trong một diện tích đất nhỏ có sự phát triển của rừng ngập mặn. Tiêu chuẩn thường được thiết lập bởi chính phủ hoặc các công ty lâm nghiệp, rừng ngập mặn sẽ chiếm từ 50 – 70% và phần còn lại là ao nuôi và cơ sở hạ tầng. Nhìn chung, cây ngập mặn có thể trồng trong nuôi tôm hoặc trồng riêng ngoài ao. Một số trại nuôi đã sử dụng rùng ngập mặn để lọc nước thải, giảm tác động của hoạt động nuôi trồng lên môi trường. Nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn tương tự hình thức nuôi quảng canh nhưng mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân như: tạo thu  nhập cho người nuôi và các tác động tích cực đến môi trường.

2. Những lợi ích mà mô hình tôm – rừng mang lại

Nuôi tôm trong rừng ngập mặn mang lại nhiều nguồn thu giúp cuộc sống người nông dân ổn định hơn. Đầu tiên, mô hình sẽ cung cấp nhiều cơ hội có thêm thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau. Ngoài con tôm, người nuôi còn có thể nuôi thêm cua, vẹm, tôm, cá tự nhiên,… Hơn nữa gỗ ở rừng ngập mặn có thể thu hoạch định kì để bán. Điều đó cho phép người nông dân ít phụ thuộc vào con tôm và có thể ứng biến trước các biến động của thị trường tôm.

Quy định cũng cho phép người dân khai thác cây ngập mặn sau chu kì 12 năm tăng trưởng. Chúng sẽ được bán hơn 7 triệu VNĐ/ha/năm và đây là một cách đa dạng hóa thu nhập.

Cây ngập mặn mọc ở các bãi triều và bên dưới mỗi cây đước là một khu vực mà lí thuyết gọi là “không gian ở”, là vùng không gian bao gồm vùng đất hiện tại và vùng đất tương lai cây phát triển đến theo chiều dọc và chiều ngang. “Không gian ở” có thể dần dần bị lấp đầy bởi các quá trình bồi lắng và bồi tụ. Đây là hai quá trình làm lắng đọng trầm tích và kết chúng lại với đất. Từ đó làm tăng mực độ của vùng “không gian ở” này. Trầm tích có thể được lắng đọng theo nhiều cách khác nhau: được mang theo từ thủy triều cao, lắng tụ từ các con sông chảy ra và thậm chí từ lá cây rớt xuống. Mực nước biển tăng là một quá trình từ từ xảy ra trong nhiều năm và như vậy có thể đối phó bởi một quá trình chậm khác là bồi tụ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong một số trường hợp tốc độ bồi tụ có thể tương đương với mức tăng mực nước biển dâng, đặc biệt là các vùng đồng bằng nơi có nguồn trầm tích từ thượng nguồn sông chảy ra. Trồng rừng ngập mặn ở các tỉnh ven viển của đồng bằng sông Mê Kông bằng mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rừng ngập mặn sẽ có ý nghĩa chống lại ảnh hưởng của sự dâng mực nước biển trong thập kỉ tới.

Nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn có tiềm năng cung cấp nhiều lợi ích cho môi trường vượt ra ngoài cả Việt Nam. Chất mang chính của biến đổi khí hậu là khí CO2 trong không khí. Nó sẽ làm làm tăng hiệu ứng nhà kính, nhiệt được sinh ra trong không khí và dẫn đến tăng nhiệt độ. Giống với nước biển dâng, mức độ ấm lên là không xác định nhưng có thể là 1 – 4oC. Vấn đề ấm lên toàn cầu có những tác động lớn tới chăn nuôi của người nông dân như tăng nguy cơ dịch bệnh, tỷ lệ sống thấp hơn và tăng cơ hội xuất hiện các thời tiết xấu như bão. Tất cả sẽ làm giảm thu nhập và đẩy sinh kế của họ vào thế nguy kịch. Carbon có thể được loại khỏi không khí hoặc cô lập thông qua các quá trình tự nhiên như hô hấp của thực vật và hấp thu thụ động của đại dương.  Để làm giảm tốc độ biến đổi khí hậu và tăng tỉ lệ carbon bị cô lập trong không khí thì trồng rừng ngập mặn là một cách vô cùng hiệu quả.

Rừng ngập mặn là cách loại bỏ carbon hiệu quả nhất thế giới. Thực thế rừng ngập mặn có thể loại bỏ hơn hai lần carbon so với rừng nhiệt đối, ôn đới và nhiệt đới gió mùa. Điều này có thể hiểu lượng lớn carbon được rừng ngập mặn lưu trữ ở dưới sâu mặt đất. Thậm chí trong thời gian sống của chúng, rừng ngập mặn có thể cách ly lượng lớn carbon có thể sánh với các khu rừng đã tồn tại trong thời gian dài. Nghiên cứu trồng rừng ngập mặn ở Cần Giờ đã giúp chúng phục hồi trở lại dưới sự tàn phá của chất độc da cam trong chiến. Nếu khía cạnh này được áp dụng với quy mô rộng tới các vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long có thể giúp chống lại sự thay đổi môi trường thông qua sự cô lập carbon.


https://gqsvietnam.com/storage/photos/1/logo.png GQS Vietnam luôn cam kết dành cho đối tác của mình chất lượng, uy tính và sự hỗ trợ chuyên nghiệp, nhiệt tình, chu đáo.

Chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ như sau:

►  Viết dự án vốn vay ODA: Viết báo cáo nghiên cứu sinh kế, viết báo cáo tổng thể.

► Tư vấn, đào tạo, chứng nhận các tiêu chuẩn trong và ngoài nước như: VietGAP, Hữu cơ, GlobalGAP, EU Organic, USDA Organic, JAS, ASC, HACCP, GMP, SSOP, BRC, IFS, FSSC, BAP…

►  Liên kết chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa thông qua triển khai NĐ 98 về liên kết chuỗi.

►  Ứng dụng công nghệ Blockchain trong truy xuất nguồn gốc điện tử QRcode và thương mại điện tử cho nông sản.

►  Xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP cho các hợp tác xã, Xây dựng tiêu chí 13 trong nông thôn mới cho các xã.

Công ty TNHH Giải Pháp Chất Lượng GQS


Xem thêm >>